Tin nhanh

Tham luận của ông Ngô Đức Đoàn - Chủ tịch, Tổng Giám đốc Cty AASC Ủy viên Ban chấp hành VAA
Tại Hội nghị các Doanh nghiệp hành nghề kế toán toàn quốc lần thứ 1 ngày 18/12/2009.

Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam sang kinh tế thị trường là việc xuất hiện và gia tăng nhu cầu về dịch vụ kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính, thuế. Qua hơn 18 năm hành nghề dịch vụ kế toán, kiểm toán, tôi tin tưởng rằng: nghề kế toán, những người chuyên môn hành nghề kế toán và các công ty, tổ chức chuyên ngành kế toán, kiểm toán đã và đang là nhân tố của sự phát triển kinh tế cho đất nước ta hội nhập với khu vực và thế giới. Trong khuôn khổ của bài văn này, tôi xin đề cập về lợi ích của khách hàng khi sử dụng dịch vụ kế toán của các công ty dịch vụ kế toán và kiểm toán.
Thứ nhất, thực hiện dịch vụ kế toán, các công ty kế toán, tổ chức và các nhà hành nghề kế toán giúp cho các khách hàng nắm bắt và hiểu biết được chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế thế giới và khu vực về các hoạt động quản lý kinh tế tài chính, kế toán và thuế. Hiện nay, một số các doanh nghiệp, doanh nhân, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp tư nhân mới thành lập đi vào hoạt động, chủ doanh nghiệp cũng như các nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp chưa thể nắm bắt kịp thời, đầy đủ các vấn đề, các quy định trong nước, các thông lệ, các chuẩn mực, tiêu chuẩn quốc tế về quản lý kinh tế, tài chính, thuế, thương mại và kế toán. Điều này dẫn đến những rủi ro trong kinh doanh, gây ra lãng phí, tổn thất về thời gian, công sức, tiền bạc, của cải vật chất... Người hành nghề kế toán, chuyên gia kế toán là những người được tiếp cận hàng ngày với những vấn đề bức xúc của doanh nghiệp, họ nắm rất rõ tình hình của doanh nghiệp và thậm chí có thể còn nắm rõ hơn nữa và đoán trước được lựa chọn mà doanh nghiệp phải thực hiện trong lĩnh vực thương mại, kinh doanh, tài chính, kế toán, thuế.

Thứ hai,
thông qua các dịch vụ kế toán, các chuyên gia kế toán của các công ty kế toán, kiểm toán sẽ tư vấn cho các chủ doanh nghiệp lựa chọn mô hình tổ chức quản lý kinh doanh phù hợp, hiệu quả cũng như những vận dụng chính sách kinh tế, tài chính, thuế trong hoạt động của mình nhằm làm giảm chi phí, tăng thu nhập, nâng cao năng suất lao động và đảm bảo hiệu suất kinh tế cao nhất. Với doanh nghiệp thì điều quan trọng là việc tìm kiếm và lựa chọn mô hình quản lý kinh doanh thích ứng cho hoạt động của mình, hay xem xét vận dụng hợp lý các chế độ, chính sách, thông lệ, chuẩn mực trong và ngoài nước có liên quan. Tuy nhiên, với các doanh nghiệp, việc lựa chọn và vận dụng là khó khăn do còn thiếu thông tin, kinh nghiệm và kiến thức thực tiễn hoặc sự am hiểu tận tường. Việc tiếp cận các dịch vụ kế toán, kiểm toán, tư vấn là giải pháp nhanh nhất, hiệu quả nhất để doanh nghiệp nhận được những ý kiến tư vấn tốt nhất. Các công ty kế toán, kiểm toán với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, hội nhập, được đào tạo chính quy trong và ngoài nước, có bề dày kinh nghiệm, thường xuyên cập nhật thông tin kinh tế, tài chính, kế toán, thuế, sẽ cung cấp cho doanh nghiệp, doanh nhân các thông tin và ý kiến tư vấn có giá trị nhất, gia tăng các hoạt động và nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Thứ ba,
thông qua các dịch vụ kế toán, kiểm toán sẽ giúp cho chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp có được những thông tin chính xác, đảm bảo tin cậy cho việc đưa ra các quyết định về đầu tư kinh doanh, thương mại, về quản trị hiệu quả nhất. Những nhận xét của các chuyên gia kế toán, của các kiểm toán viên là những nhận xét khách quan về tính trung thực, hợp lý của các thông tin tài chính của doanh nghiệp. Các nhận xét này sẽ có độ chính xác và tin cậy cao cho những người sử dụng tin tức tài chính do các doanh nhân, doanh nghiệp công bố. Mặt khác, dịch vụ kế toán, kiểm toán do các công ty kế toán, kiểm toán, các chuyên gia kế toán, kiểm toán viên thực hiện hoàn thành sẽ giúp cho chủ doanh nghiệp, chủ đầu tư loại bỏ những chi phí không hợp lý, không hợp lệ, tiết kiệm vốn đầu tư, ngăn ngừa tiêu cực, lãng phí và nâng cao hiệu quả hoạt động cho chủ doanh nghiệp.

Thứ tư,
thông qua dịch vụ kế toán, kiểm toán sẽ giúp cho chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư phát hiện những điểm yếu, những sai sót trong công tác quản lý tài chính cũng như việc hạch toán kế toán và kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp và đưa ra các ý kiến tư vấn có giá trị nhằm giúp cho doanh nghiệp cải tiến và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kế toán tại doanh nghiệp. Cùng với việc xác nhận về tính trung thực, hợp lý về các số liệu tài chính, kế toán, trong quá trình thực hiện các dịch vụ kế toán, kiểm toán, công ty kế toán, kiểm toán sẽ xem xét, đánh giá các vấn đề được coi là những ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của doanh nghiệp, và tiến hành trao đổi với các chủ doanh nghiệp, doanh nhân về những vấn đề này, tư vấn cho doanh nghiệp tránh được những rủi ro có thể gặp phải, hay khắc phục những điểm yếu kém, thiếu hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ năm,
cũng thông qua việc thực hiện các dịch vụ kế toán, kiểm toán, các chuyên gia kế toán, kiểm toán của các công ty kế toán, kiểm toán sẽ tư vấn cho các chủ doanh nghiệp xây dựng chiến lược, tầm nhìn của doanh nghiệp, lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh, kế hoạch, chương trình tiếp xúc thương mại, kế hoạch tuyền dụng đào tạo nguồn nhân lực, nhân lực, đào tạo cán bộ quản lý, quản trị cho doanh nghiệp, đào tạo bồi dưỡng nhân viên kế toán, kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp; xây dựng dự án đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp; giúp các chủ doanh nghiệp phân tích hiệu quả kinh tế, tổng kết quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hội nhập sâu rộng về thương mại với các nước trong khu vực và quốc tế.

Thứ sáu,
thông qua dịch vụ kế toán, kiểm toán đối với khách hàng là các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, tổ chức kinh doanh chứng khoán đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, các công ty kế toán, kiểm toán đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, tăng khả năng tiếp cận của doanh nghiệp và công chúng với thị trường chứng khoán. Cũng thông qua dịch vụ kế toán, kiểm toán này sẽ góp phần huy động vốn đầu tư có hiệu quả cho nền kinh tế, thúc đẩy công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hội nhập sâu rộng với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Để giúp cho khách hàng thu được những lợi ích cơ bản nêu trên, ngoài những khả năng kỹ thuật, chuyên môn chuyên nghiệp cao, kinh nghiệm phong phú, các chuyên gia kế toán, kiểm toán viên phải là những người không thể chê trách trên phương diện đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán. Mỗi chuyên gia kế toán, kiểm toán viên phải tuân thủ các quy định về đạo đức phù hợp và ứng xử đạo đức nghề nghiệp một cách chặt chẽ, nghiêm ngặt, tạo niềm tin ngày càng cao của công chúng và khách hàng khi sử dụng dịch vụ kế toán và kiểm toán của các công ty kế toán và kiểm toán.
Sáu sai lầm trong quản trị rủi ro PDF. In Email
Viết bởi Hằng   
Thứ ba, 15 Tháng 12 2009 21:59
Người ta hầu như không thể dự đoán được những biến cố kiểu “Thiên Nga Đen”. Do vậy, thay vì duy trì ảo tưởng rằng chúng ta có thể lường trước tương lai, các nhà quản trị nên tìm cách giảm thiểu ảnh hưởng từ những nguy cơ khó nhận biết.

Chúng ta không nhìn thế giới qua lăng kính của những kiến thức quản trị rủi ro xưa cũ. Không một mô hình dự báo nào dự đoán được tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện tại, những tác động vẫn đang tiếp tục khiến các nhà kinh tế học và giáo sư các trường kinh doanh sửng sốt.
Hơn nữa, như chúng ta đều biết, chính những cái gọi là mô hình quản trị rủi ro của các ngân hàng đã làm cho cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng, thay vì phải hạn chế, chúng làm tăng khả năng tiếp xúc với hiểm nguy và mặc cho nền kinh tế suy yếu hơn bao giờ hết.

Những biến cố xác suất thấp, tác động lớn và gần như không thể dự đoán - mà chúng tôi gọi là Thiên Nga Đen [1] - đang ngày càng thống trị thế giới. Nhờ internet và quá trình toàn cầu hóa, thế giới của chúng ta trở thành một hệ thống phức tạp với mạng lưới các mối quan hệ rối rắm và những nhân tố có mối quan hệ chằng chịt. Sự phức tạp không chỉ gia tăng phạm vi ảnh hưởng của các biến cố Thiên Nga Đen mà còn khiến người ta không thể dự báo các biến cố dù rất bình thường khác. Tất cả những gì chúng ta có thể dự đoán là những công ty nào phớt lờ các biến cố Thiên Nga Đen sẽ thất bại.

Cập nhật ngày Thứ tư, 16 Tháng 12 2009 17:15
Đọc thêm...
 
Doanh nghiệp được miễn giảm thuế theo Thông tư số 03/2009/TT-BTC ngày 13/01/2009 của Bộ Tài chính PDF. In Email
Viết bởi Hằng   
Thứ hai, 07 Tháng 12 2009 15:25

Về thời gian gia hạn nộp thuế  gia gia hạn nộp thuế TNDN quý và quý IV/2008 đối với DN CN  chế biến theo công văn số 8296/BTC-CST:

            1.1 - Đối với trường hợp doanh nghiệp gửi hồ sơ đề nghị gia hạn nộp thuế tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp sau khi hết hạn nộp thuế:

Tại Điểm 5.1, Mục I, Phần B, Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ tài chính quy định:

“Người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan  thuế có sai sót, nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế. Hồ sơ khai thuế bổ sung được nộp cho cơ quan thuế vào bất cứ ngày làm việc nào, không phụ thuộc vào thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của lần tiếp theo, nhưng phải trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế”

Do đó, các doanh nghiệp đã nộp hồ sơ khai thuế đúng hạn nhưng chưa có hồ sơ xin gia hạn nộp thuế, sau khi đã hết thời hạn nộp thuế doanh nghiệp mới gửi hồ sơ đề nghị gia hạn nộp thuế thì vẫn được gia hạn nộp thuế (nếu vẫn còn thời gian được gia hạn) nhưng doanh nghiệp phải gửi hồ sơ tới cơ quan thuế trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.

1.2 - Trường hợp sau khi tự khai quyết toán thuế năm 2008, doanh nghiệp có số thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp quý III và Quý IV/2008 (sau khi chia bình quân 4 quý) cao hơn số thuế TNDN được gia hạn.

Căn cứ theo quy định tại Điểm 5.1, Mục I, Phần B, Thông tư số 60/2007/TT-BTC nêu trên thì:

- Trường hợp doanh nghiệp tự khai quyết toán thuế năm 2008, cơ quan thuế chưa công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế thì doanh nghiệp vẫn được phép khai điều chỉnh bổ sung và tiếp tục được gia hạn số thuế TNDN phát sinh thêm của quý III và Quý IV/2008.

- Trường hợp cơ quan thuế đã công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế thì doanh nghiệp không được phép khai điều chỉnh bổ sung và không được phép gia hạn số thuế TNDN phát sinh thêm của quý III và Quý IV/2008.

Về việc các doanh nghiệp được thực hiện Thông tư số 03/2009/TT-BTC

- Đơn vị sự nghiệp có thu

Nếu đơn vị sự nghiệp có thu có thực hiện chế độ kế toán hoá đơn, chứng từ và thực hiện đăng ký nộp thuế theo kê khai thì cũng được miễn giảm thuế theo Thông tư số 03/2009/TT-BTC ngày 13/01/2009 của Bộ Tài chính.

- Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại VN:

Căn cứ ý kiến của Ngân hàng Nhà nước tại công văn số 3287/NHNN-CNH ngày 08/5/2009 thì:

- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật doanh nghiệp theo quy định tại các Điều 1, 3, 4 Luật doanh nghiệp.

- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là một hình thức hiện diện tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng nước ngoài và không có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam theo quy định tại Khoản 2, Điều 12, Khoản 1, Điều 105 Luật các tổ chức tín dụng và Khoản 4, Điều 7, Nghị định số 22/2006/NĐ-CP ngày 28/02/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam.

Do đó, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam không thuộc đối tượng áp dụng Thông tư số 03/2009/TT-BTC nêu trên.

-  Quỹ đầu tư phát triển địa phương

Quỹ đầu tư phát triển địa phương được tổ chức và hoạt động theo quy định tại Nghị định số 138/2007/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 28/8/2007 về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư phát triển địa phương, thuộc đối tượng điều chỉnh bởi Luật Các tổ chức tín dụng ngày 12/02/1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Các tổ chức tín dụng ngày 16/5/2004. Do đó nếu quỹ đầu tư phát triển địa phương đáp ứng điều kiện về doanh nghiệp nhỏ và vừa thì được hưởng ưu đãi về giảm và gia hạn nộp thuế TNDN theo quy định tại Thông tư số 03/2009/TT-BTC nêu trên.

                                               ( Trích công văn số Số: 10588 /BTC-TCT ngày 24 tháng 7năm 2009)

Minh Hằng

Cập nhật ngày Thứ ba, 15 Tháng 12 2009 21:57
 
Hướng dẫn các trường hợp đưa chi phí quảng cáo khi xác định chi phí hợp lý chịu thuế TNDN. PDF. In Email
Viết bởi Hằng   
Thứ hai, 07 Tháng 12 2009 15:22

Căn cứ vào Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại quy định các hình thức khuyến mại như sau:

“Điều 7: Đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền;

Điều 8: Tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền; không kèm theo việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

Điều 9: Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó;

Điều 10: Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ;

Điều 11: Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố;

Điều 12: Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự chương trình khuyến mại mang tính may rủi;

Điều 13: Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên;

Điều 14: Khuyến mại hàng hóa, dịch vụ thông qua internet và các phương tiện điện tử khác”.

Và căn cứ vào một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Tại khoản 1 điều 9  chương II Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định:

Doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;

b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên có 11 khoản không được đưa vào chi phí hợp lý được quy định tại khoản 2 điều 9  chương II Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 trong đó điểm g quy định:” Phần chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới (không bao gồm hoa hồng môi giới bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, hoa hồng đại lý bán hàng đúng giá); chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh vượt quá 10% tổng số chi được trừ. Đối với doanh nghiệp mới thành lập từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 là phần chi vượt quá 15% trong ba năm đầu, kể từ khi được thành lập;

Tổng số chi được trừ không bao gồm các khoản chi quy định trên đây; đối với hoạt động thương mại không bao gồm giá mua hàng hoá bán ra.”

Tại Điều 20 Chương V Nghị định số 124/2008/NĐ-CP quy định: “Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009”

Tại Điều 21 Chương V Nghị định số 124/2008/NĐ-CP quy định : “Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định này”.

Ngày 26/12/2008 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 130 /2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Tại điểm 2.19 Mục V  Phần C Thông tư số 130 /2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày11 tháng 12 năm 2008  quy định những khoản chi phí không tính vào chi phí hợp lý

Phần chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh vượt quá 10% tổng số chi được trừ; đối với doanh nghiệp thành lập mới là phần chi vượt quá 15% trong ba năm đầu, kể từ khi được thành lập. Tổng số chi được trừ không bao gồm các khoản chi khống chế quy định tại điểm này; đối với hoạt động thương mại, tổng số chi được trừ không bao gồm giá mua của hàng hoá bán ra;

Các khoản chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới bị khống chế nêu trên không bao gồm hoa hồng môi giới bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; hoa hồng trả cho các đại lý bán hàng đúng giá; các khoản chi sau phát sinh trong nước hoặc ngoài nước (nếu có): Chi phí nghiên cứu thị trường: thăm dò, khảo sát, phỏng vấn, thu thập, phân tích và đánh giá thông tin; chi phí phát triển và hỗ trợ nghiên cứu thị trường; chi phí thuê tư vấn thực hiện công việc nghiên cứu, phát triển và hỗ trợ nghiên cứu thị trường; Chi phí trưng bày, giới thiệu sản phẩm và tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại: chi phí mở phòng hoặc gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm; chi phí thuê không gian để trưng bày, giới thiệu sản phẩm; chi phí vật liệu, công cụ hỗ trợ trưng bày, giới thiệu sản phẩm; chi phí vận chuyển sản phẩm trưng bày, giới thiệu.

Mức giới hạn 15% trong 3 năm đầu chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp mới thành lập được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh kể từ ngày 01/01/2009, không áp dụng đối với doanh nghiệp được thành lập mới do hợp nhất, chia, tách, sáp nhập, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp, chuyển đổi sở hữu.

Ví dụ: Công ty A thành lập năm 2008, trong năm 2009 lập báo cáo quyết toán thuế TNDN có số liệu về chi phí được ghi nhận như sau :

- Phần chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp : 250 triệu đồng

- Tổng các khoản chi phí được trừ vào chi phí (không bao gồm: phần chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh): 2 tỷ đồng

Vậy phần chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh được trừ tính vào chi phí bị khống chế tối đa là :

2 tỷ đồng nhân (x) 10%  bằng (=)  200 triệu đồng

Vậy tổng chi phí được trừ tính vào chi phí trong năm 2009 là :

2 tỷ đồng cộng (+) 200 triệu đồng bằng (=) 2,2 tỷ đồng 

 

Như vậy  các khoản Chi phí như : 

Chi phí quà tặng, quà khuyến mại và dịch vụ miễn phí , Chi phí liên quan đến tiền khuyến mại giảm giá, bao gồm cả tiền chiết khấu thanh toán nhanh cho đại lý hoặc người tiêu dùng. nêu trên nằm trong  khoản 1 điều 9  chương II Nghị định số 124/2008/NĐ-CP về chi phí trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh và không vượt quá 10% tổng số chi quảng cáo đối với doanh nghiệp đã thành lập trước ngày 01/01/2009 và không quá 15% trong ba năm đầu đối với những doanh nghiệp mới thành lập từ ngày 01/01/2009

Căn cứ các quy định nêu trên, các khoản chi phí khuyến mại (chi phí mua hoặc sản xuất hàng hóa, dịch vụ tặng kèm theo sản phẩm bán ra) và chi phí chiết khấu thanh toán nhanh, kể cả chi tiền cho đại lý và người mua hàng hóa thì được tính vào chi phí hợp lý theo đúng hướng dẫn của Thông tư số 130 /2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 nhưng bị khống chế theo tỷ lệ quy định như đã nêu ở trên.

Tác giả: Minh Hằng

Cập nhật ngày Thứ hai, 07 Tháng 12 2009 15:23
 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 3 của 12
Copyright © 2010 hangketoan.com.
feed-image Feed Entries