Tin nhanh

Tham luận của ông Ngô Đức Đoàn - Chủ tịch, Tổng Giám đốc Cty AASC Ủy viên Ban chấp hành VAA
Tại Hội nghị các Doanh nghiệp hành nghề kế toán toàn quốc lần thứ 1 ngày 18/12/2009.

Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam sang kinh tế thị trường là việc xuất hiện và gia tăng nhu cầu về dịch vụ kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính, thuế. Qua hơn 18 năm hành nghề dịch vụ kế toán, kiểm toán, tôi tin tưởng rằng: nghề kế toán, những người chuyên môn hành nghề kế toán và các công ty, tổ chức chuyên ngành kế toán, kiểm toán đã và đang là nhân tố của sự phát triển kinh tế cho đất nước ta hội nhập với khu vực và thế giới. Trong khuôn khổ của bài văn này, tôi xin đề cập về lợi ích của khách hàng khi sử dụng dịch vụ kế toán của các công ty dịch vụ kế toán và kiểm toán.
Thứ nhất, thực hiện dịch vụ kế toán, các công ty kế toán, tổ chức và các nhà hành nghề kế toán giúp cho các khách hàng nắm bắt và hiểu biết được chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế thế giới và khu vực về các hoạt động quản lý kinh tế tài chính, kế toán và thuế. Hiện nay, một số các doanh nghiệp, doanh nhân, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp tư nhân mới thành lập đi vào hoạt động, chủ doanh nghiệp cũng như các nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp chưa thể nắm bắt kịp thời, đầy đủ các vấn đề, các quy định trong nước, các thông lệ, các chuẩn mực, tiêu chuẩn quốc tế về quản lý kinh tế, tài chính, thuế, thương mại và kế toán. Điều này dẫn đến những rủi ro trong kinh doanh, gây ra lãng phí, tổn thất về thời gian, công sức, tiền bạc, của cải vật chất... Người hành nghề kế toán, chuyên gia kế toán là những người được tiếp cận hàng ngày với những vấn đề bức xúc của doanh nghiệp, họ nắm rất rõ tình hình của doanh nghiệp và thậm chí có thể còn nắm rõ hơn nữa và đoán trước được lựa chọn mà doanh nghiệp phải thực hiện trong lĩnh vực thương mại, kinh doanh, tài chính, kế toán, thuế.

Thứ hai,
thông qua các dịch vụ kế toán, các chuyên gia kế toán của các công ty kế toán, kiểm toán sẽ tư vấn cho các chủ doanh nghiệp lựa chọn mô hình tổ chức quản lý kinh doanh phù hợp, hiệu quả cũng như những vận dụng chính sách kinh tế, tài chính, thuế trong hoạt động của mình nhằm làm giảm chi phí, tăng thu nhập, nâng cao năng suất lao động và đảm bảo hiệu suất kinh tế cao nhất. Với doanh nghiệp thì điều quan trọng là việc tìm kiếm và lựa chọn mô hình quản lý kinh doanh thích ứng cho hoạt động của mình, hay xem xét vận dụng hợp lý các chế độ, chính sách, thông lệ, chuẩn mực trong và ngoài nước có liên quan. Tuy nhiên, với các doanh nghiệp, việc lựa chọn và vận dụng là khó khăn do còn thiếu thông tin, kinh nghiệm và kiến thức thực tiễn hoặc sự am hiểu tận tường. Việc tiếp cận các dịch vụ kế toán, kiểm toán, tư vấn là giải pháp nhanh nhất, hiệu quả nhất để doanh nghiệp nhận được những ý kiến tư vấn tốt nhất. Các công ty kế toán, kiểm toán với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, hội nhập, được đào tạo chính quy trong và ngoài nước, có bề dày kinh nghiệm, thường xuyên cập nhật thông tin kinh tế, tài chính, kế toán, thuế, sẽ cung cấp cho doanh nghiệp, doanh nhân các thông tin và ý kiến tư vấn có giá trị nhất, gia tăng các hoạt động và nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Thứ ba,
thông qua các dịch vụ kế toán, kiểm toán sẽ giúp cho chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp có được những thông tin chính xác, đảm bảo tin cậy cho việc đưa ra các quyết định về đầu tư kinh doanh, thương mại, về quản trị hiệu quả nhất. Những nhận xét của các chuyên gia kế toán, của các kiểm toán viên là những nhận xét khách quan về tính trung thực, hợp lý của các thông tin tài chính của doanh nghiệp. Các nhận xét này sẽ có độ chính xác và tin cậy cao cho những người sử dụng tin tức tài chính do các doanh nhân, doanh nghiệp công bố. Mặt khác, dịch vụ kế toán, kiểm toán do các công ty kế toán, kiểm toán, các chuyên gia kế toán, kiểm toán viên thực hiện hoàn thành sẽ giúp cho chủ doanh nghiệp, chủ đầu tư loại bỏ những chi phí không hợp lý, không hợp lệ, tiết kiệm vốn đầu tư, ngăn ngừa tiêu cực, lãng phí và nâng cao hiệu quả hoạt động cho chủ doanh nghiệp.

Thứ tư,
thông qua dịch vụ kế toán, kiểm toán sẽ giúp cho chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư phát hiện những điểm yếu, những sai sót trong công tác quản lý tài chính cũng như việc hạch toán kế toán và kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp và đưa ra các ý kiến tư vấn có giá trị nhằm giúp cho doanh nghiệp cải tiến và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kế toán tại doanh nghiệp. Cùng với việc xác nhận về tính trung thực, hợp lý về các số liệu tài chính, kế toán, trong quá trình thực hiện các dịch vụ kế toán, kiểm toán, công ty kế toán, kiểm toán sẽ xem xét, đánh giá các vấn đề được coi là những ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của doanh nghiệp, và tiến hành trao đổi với các chủ doanh nghiệp, doanh nhân về những vấn đề này, tư vấn cho doanh nghiệp tránh được những rủi ro có thể gặp phải, hay khắc phục những điểm yếu kém, thiếu hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ năm,
cũng thông qua việc thực hiện các dịch vụ kế toán, kiểm toán, các chuyên gia kế toán, kiểm toán của các công ty kế toán, kiểm toán sẽ tư vấn cho các chủ doanh nghiệp xây dựng chiến lược, tầm nhìn của doanh nghiệp, lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh, kế hoạch, chương trình tiếp xúc thương mại, kế hoạch tuyền dụng đào tạo nguồn nhân lực, nhân lực, đào tạo cán bộ quản lý, quản trị cho doanh nghiệp, đào tạo bồi dưỡng nhân viên kế toán, kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp; xây dựng dự án đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp; giúp các chủ doanh nghiệp phân tích hiệu quả kinh tế, tổng kết quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hội nhập sâu rộng về thương mại với các nước trong khu vực và quốc tế.

Thứ sáu,
thông qua dịch vụ kế toán, kiểm toán đối với khách hàng là các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, tổ chức kinh doanh chứng khoán đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, các công ty kế toán, kiểm toán đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, tăng khả năng tiếp cận của doanh nghiệp và công chúng với thị trường chứng khoán. Cũng thông qua dịch vụ kế toán, kiểm toán này sẽ góp phần huy động vốn đầu tư có hiệu quả cho nền kinh tế, thúc đẩy công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hội nhập sâu rộng với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Để giúp cho khách hàng thu được những lợi ích cơ bản nêu trên, ngoài những khả năng kỹ thuật, chuyên môn chuyên nghiệp cao, kinh nghiệm phong phú, các chuyên gia kế toán, kiểm toán viên phải là những người không thể chê trách trên phương diện đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán. Mỗi chuyên gia kế toán, kiểm toán viên phải tuân thủ các quy định về đạo đức phù hợp và ứng xử đạo đức nghề nghiệp một cách chặt chẽ, nghiêm ngặt, tạo niềm tin ngày càng cao của công chúng và khách hàng khi sử dụng dịch vụ kế toán và kiểm toán của các công ty kế toán và kiểm toán.
Hệ thống xác lập chi phí dựa trên hoạt động PDF. In Email
Viết bởi Hằng   
Thứ tư, 16 Tháng 12 2009 17:20

So với các phương pháp truyền thống, phương pháp ABC (Activity-Based Costing) trước hết quy tập toàn bộ chi phí gián tiếp (các chi phí khác chi phí nguyên liệu trực tiếp, và chi phí lao động trực tiếp) đối với mỗi hoạt động của tổ chức, sau đó phân bổ các chi phí theo hoạt động này vào từng sản phẩm, dịch vụ, hay vào các đối tượng tạo ra hoạt động đó, thông qua các kích tố chi phí (cost driver).

Trong phương pháp truyền thống, tỷ lệ tổng chi phí gián tiếp phân bổ vào thành phẩm thường phụ thuộc vào tỷ lệ của tổng số giờ lao động trực tiếp cần có để làm ra thành phẩm đó. Còn trong ABC, các hoạt động gián tiếp đáng chú ý (như chạy máy, lắp ráp, kiểm tra chất lượng,...) được xác định bởi giám đốc vận hành. Sau đó, chi phí cho các nguồn lực gián tiếp đã tiêu dùng để thực hiện các hoạt động đó sẽ được truy nguyên theo hoạt động thông qua kích tố chi phí thích hợp. Cuối cùng, tập hợp các chi phí của từng hoạt động sẽ được phân bổ tiếp về các thành phẩm thông qua các kích tố chi phí hợp lý khác. Nói một cách hình tượng hơn, hệ thống ABC xé nhỏ chiếc bánh chi phí gián tiếp thành các mẩu bánh tương ứng với mỗi hoạt động nhất định.

Đến đây, có lẽ các bạn vẫn cảm thấy khá mông lung về ABC. Một ví dụ có lẽ sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề. Từ những năm cuối của thập kỷ 80, công ty Elgin Sweeper của Bắc Mỹ đã áp dụng ABC như sau:

- Bước đầu tiên là nghiên cứu các hoạt động tạo phí, lập danh sách các đơn vị tính phí có thể, cho mỗi hoạt động. Các đơn vị tính phí của Elgin bao gồm: tiền công lao động ($), giờ lao động, số lượng hàng gửi đi, số lượng thành phẩm, số đơn đặt hàng, doanh thu, ngày làm việc, thông báo thay đổi kỹ thuật, thời gian lao động kỹ thuật,... Các chi phí thay đổi với từng đơn vị tính phí được nhận dạng và tính toán.

- Tiếp theo, Elgin thiết lập báo cáo về dây truyền sản xuất cho phép đánh giá hiệu quả của các quyết định phân bổ nguồn lực. Kết quả của việc áp dụng hệ thống xác lập chi phí là sự tham gia của các giám đốc sản xuất vào việc nhận dạng kích tố chi phí và sự xoá bỏ các hoạt động không tạo ra giá trị gia tăng.

Gợi ý các bước xác lập hệ thống ABC:

1. Xác định các đối tượng tạo phí, các hoạt động, nguồn lực, và kích tố chi phí liên quan. Công việc này cần có sự giúp đỡ của các nhân viên chuyên môn. Kích tố chi phí được chọn dựa trên 2 tiêu chí:

- Quan hệ nhân quả hợp lý giữa kích tố chi phí và lượng tiêu hao nguồn lực.
- Dữ liệu về kích tố chi phí có thê thu thập được.

2. Phát triển một sơ đồ quá trình, biểu thị các luồng hoạt động, nguồn lực và mối quan hệ qua lại giữa

Đọc thêm...
 
Xây dựng và phân tích chi phí định mức PDF. In Email
Viết bởi Hằng   
Thứ tư, 16 Tháng 12 2009 17:19
Phân tích hoạt động kinh doanh phải cố gắng lượng hoá bằng cách dựa trên những dữ liệu được thu thập ( ngành thống kê) xây dựng thành các phương trình (ngành toán học kinh tế ) để kiểm chứng tính xác thực của lý thuyết và những sai biệt do các yếu tố không nhìn thấy, không thể giải thích khác (ngành kinh tế lượng) trước khi sử dụng chúng để phân tích dự báo.

Mỗi nội dung phân tích đều có ý nghĩa đối với việc hình thành chiến lược kinh doanh lâu dài, ổn định hoặc xác lập các giải pháp trước mắt của doanh nghiệp. Kết quả phân tích là cơ sở cho các quyết định quản trị trong từng giai đoạn kinh doanh, hoặc trong chiến lược dài hạn.

Để kết quả phân tích có giá trị, các nhân tố cần được cố gắng định lượng trong khả năng có thể. Chính những thông tin lượng hoá đó mới đúng nghĩa là “ hệ thống thông tin hữu ích của kế toán, cơ sở của các quyết định quản trị và chỉ có điều này mới làm cho phân tích hoạt động kinh doanh trở nên thuyết phục và sẽ là hoạt động thường xuyên được quan tâm tại doanh nghiệp.

Trong doanh nghiệp, việc xây dựng định mức chi phí và phân tích định mức chi phí vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Bài viết này xin đưa ra cách xây dựng định mức chi phí và phân tích các định mức đó.

Trước hết phải hiểu chi phí định mức là gì. Đó là chi phí dự tính để sản xuất một sản phẩm hay thực hiện một dịch vụ cho khách hàng

Công dụng của chi phí định mức

  1. Là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán hoạt động vì muốn lập dự toán chi phí nguyên vật liệu phải có định mức nguyên vật liệu, chi phí nhân công phải có định mức số giờ công
  2. Giúp cho các nhà quản lý kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vì chi phí định mức là tiêu chuẩn, cơ sở để đánh giá
  3. Góp phần thông tin kịp thời cho các nhà quản lý ra quyết định hàng ngày như định giá bán sản phẩm, chấp nhận hay từ chối một đơn đặt hàng, phân tích khả năng sinh lời
  4. Gắn liền trách nhiệm của công nhân đối với việc sử dụng nguyên vật liệu sao cho tiết kiệm

Nguyên tắc xây dựng định mức tiêu chuẩn:

Quá trình xây dựng định mức tiêu chuẩn là một công việc có tính nghệ thuật hơn là khoa học. Nó kết hợp giữa suy nghĩ với tài năng chuyên môn của tất cả những người có trách nhiệm với giá và chất lượng sản phẩm. Trước hết phải xem xét một các nghiêm túc toàn bộ kết quả đã đạt được. Trên cơ sở đó kết hợp với những thay đổi về điều kiện kinh tế, về đặc điểm giữa cung và cầu, về kỹ thuật để điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp

Phương pháp xác định chi phí định mức :

* Phương pháp kỹ thuật: phương pháp này đòi hỏi sự kết hợp của các chuyên gia kỹ thuật để nghiên cứu thời gian thao tác công việc nhằm mục đích xác định lượng nguyên vật liệu và lao động hao phí cần thiết để sản xuất sản phẩm trong điều kiện về công nghệ, khả năng quản lý và nguồn nhân lực hiện có tại doanh nghiệp

* Phương pháp phân tích số liệu lịch sử: Xem lại giá thành đạt được ở những kỳ trước như thế nào, tuy nhiên phải xem lại kỳ này có gì thay đổi và phải xem xét những chi phí phát sinh các kỳ trước đã phù hợp hay chưa, nếu không hợp lý, hợp lệ thì bỏ hay xây dựng lại.

* Phương pháp điều chỉnh: Điều chỉnh chi phí định mức cho phù hợp với điều kiện hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp

Xây dựng định mức cho các loại chi phí sản xuất

-  Xây dựng định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

Về mặt lượng nguyên vật liệu : Lượng nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất một sản phẩm, có cho phép những hao hụt bình thường

Để sản xuất 1 sản phẩm thì định mức tiêu hao nguyên vật liệu  là:

  1. Nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất 1 sản phẩm     
  2. Hao hụt cho phép                                                      
  3. Lượng vật liệu tính cho sản phẩm hỏng                      

Về mặt giá nguyên vật liệu : Phản ánh giá cuối cùng của một đơn vị nguyên vật liệu trực tiếp sau khi đã trừ đi mọi khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán. Định mức về giá nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm là:

-  Giá mua ( trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán )

-  Chi phí thu mua nguyên vật liệu

Như vậy ta có:

Định mức về chi phí NVL = Định mức về lượng * định mức về giá

- Xây dựng định mức chi phí nhân công trực tiếp:

Định mức về giá một đơn vị thời gian lao động trực tiếp: bao gồm không chỉ mức lượng căn bản mà còn gồm cả các khoản phụ cấp lương, BHXH,BHYT,KPCĐ của lao động trực tiếp. Định mức giá 1 giờ công lao động trực tiếp ở một phân xưởng như sau:

  - Mức lương căn bản một giờ             
  - BHXH,

 Định mức về lượng thời gian cho phép để hoàn thành 1 đơn vị sản phẩm. Có thể được xác định bằng 2 cách:

  1. Phương pháp kỹ thuật: chia công việc theo nhiều công đoạn rồi kết hợp với bảng thời gian tiêu chuẩn của những thao tác kỹ thuật để định thời gian chuẩn cho từng công việc
  2. Phương pháp bấm giờ

Về lượng thời gian để sản xuất 1 sản phẩm được xác định như sau:

+ Thời gian cần thiết để sản xuất 1 sản phẩm
+ Thời gian nghĩ ngơi, lau chùi máy
+ Thời gian tính cho sản phẩm hỏng

Như vậy ta có:

Định mức chi phí NCTT = Định mức lượng x Định mức giá

-  Định mức chi phí sản xuất chung

 *Định mức biến phí sản xuất chung

Cũng được xây dựng theo định mức giá và lượng. Định mức giá phản ánh biến phí của đơn giá chi phí sản xuất chung phân bổ. Định mức lượng, ví dụ thời gian thì phản ánh số giờ của hoạt động được chọn làm căn cứ phân bổ chi phí sản xuất chung cho 1 đơn vị sản phẩm

  Ví dụ: Phần biến phí trong đơn giá sản xuất chung phân bổ là 1200 đ và căn cứ được chọn để phân bổ là số giờ lao động trực tiếp (định mức về lượng thời gian trực tiếp sản xuất 1 sản phẩm) là 3.5 giờ/sp thì định mức phần biến phí sản xuất chung của sản phẩm là:

  1 200đ/ giờ x 3.5 giờ/s.p = 4 200đ/s.p

 *Định mức định phí sản xuất chung

 Được xây dựng tương tự như ở phần biến phí. Sở dĩ tách riêng là nhằm giúp cho quá trình phân tích chi phí sản xuất chung sau này.

Ví dụ: Phần định phí trong đơn giá sản xuất chung phân bổ là 3 200đ/giờ và căn cứ chọn phân bổ là số giờ lao động trực tiếp với 3.5 giờ/s.p, thì phần định phí sản xuất chung của 1 sản phẩm  là:

  3 200đ/giờ x 3.5 giờ/s.p = 11 200 đ/s.p

Vậy, đơn giá phân bổ chi phí sản xuất chung :

  1 200đ/s.p + 3 200 đ/giờ = 4 400đ

Chi phí sản xuất chung để sản xuất 1 sản phẩm  là:

  4 400 đ/giờ x 3.5 giờ/s.p = 15 400 đ/s.p

Từ cách xây dựng định mức trên ta đi xây dựng phương trình hồi quy dưới dạng tuyến tính thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên chí phí sản xuất:

  Y = ao + a1X1 + a2X2 + a3X3

Y: Chi phí sản xuất sản phẩm

X1: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

X2: Chi phí nhân công trực tiếp

X3: Chi phí sản xuất chung

Ta đi xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên chi phí định mức về lượng và giá của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung như sau:

- Chi phí định mức nguyên vật liệu trực tiếp

Phương trình hồi quy chi phí định mức về lượng nguyên vật liệu:

                      G= ao +a1g1 + a2g2 + a3g3 +e

G là chi phí định mức về lượng nguyên vật liệu

g1 là lượng nguyên vật liệu cần cho sản xuất 1 sản phẩm

g2 là lượng nguyên vật liệu hao hụt cho phép

g3 là lượng nguyên vật liệu dùng cho sản phẩm hỏng

ao là số hạng cố định

a1 là mức tác động tới định mức lượng nguyên vật liệu khi lượng nguyên vật liệu dùng cho sản xuất 1 sản phẩm thay đổi 1 đơn vị

a2 là  mức tác động tới định mức lượng nguyên vật liệu khi lượng nguyên vật liệu hao hụt cho phép thay đổi 1 đơn vị

a3 là  mức tác động tới định mức lượng nguyên vật liệu khi lượng nguyên vật liệu dùng cho sản phẩm hỏng thay đổi 1 đơn vị

e là sai số, thể hiện sự tác động của các yếu tố khác

Phương trình hồi quy chi phí định mức về giá nguyên vật liệu:

                      Z = ao +a1z1 + a2z2 +e

Z là chi phí định mức về giá nguyên vật liệu

z1 là giá mua ( sau khi trừ đi các khoản giảm trừ)

z2 là chi phí thu mua

ao là số hạng cố định

a1 là mức tác động tới định mức giá nguyên vật liệu khi giá mua thay đổi 1 đơn vị

a2 là mức tác động tới định mức giá nguyên vật liệu khi chi phí thu mua thay đổi 1 đơn vị

e là sai số, thể hiện sự tác động của các yếu tố khác

- Chi phí định mức nhân công trực tiếp

Phương trình hồi quy chi phí định mức về lượng chi phí nhân công trực tiếp:

                      N= ao +a1n1 + a2n2 + a3n3 +e

G là chi phí định mức về lượng nhân công trực tiếp

g1 là lượng thời gian cần thiết để sản xuất 1 sản phẩm

g2 là lượng thời gian nghĩ ngơi, lau chùi máy

g3 là lượng thời gian tính cho sản phẩm hỏng

ao là số hạng cố định

a1 là mức tác động tới định mức lượng nhân công khi lượng thời gian cần thiết để sản xuất 1 sản phẩm thay đổi 1 đơn vị

a2 là mức tác động tới định mức lượng lượng thời gian nghĩ ngơi, lau chùi máy thay đổi 1 đơn vị

a3 là mức tác động tới định mức lượng thời gian tính cho sản phẩm hỏng  thay đổi 1 đơn vị

e là sai số, thể hiện sự tác động của các yếu tố khác

Phương trình hồi quy chi phí định mức về giá nhân công trực tiếp:


                      M= ao +a1m1 + a2m2 + a3m3 +e

M là chi phí định mức về giá nhân công trực tiếp

g1 là giá mức lương căn bản giờ công trực tiếp          

g2 là mức BHXH, BHYT, KPCĐ  tính cho 1 sản phẩm

g3 là phụ cấp tính cho 1 sản phẩm

ao là số hạng cố định

a1 là mức tác động tới định mức giá nhân công khi  mức lương căn bản dùng thay đổi 1 đơn vị

a2 là  mức tác động tới định mức giá nhân công khi  mức BHXH, BHYT, KPCĐ thay đổi 1 đơn vị

a3 là  mức tác động tới định mức giá nhân công khi  mức phụ cấp thay đổi 1 đơn vị

e là sai số, thể hiện sự tác động của các yếu tố khác

- Chi phí định mức sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung được phân thành biến phí và định phí

Phương trình hồi quy định mức chi phí sản xuất chung như sau:

                      K = ao + a1k1 + a2k2

K là định mức chi phí sản xuất chung

k1 là biến phí sản xuất chung cần thiết để sản xuất 1 sản phẩm

k2 là định phí sản xuất chung cần thiết để sản xuất 1 sản phẩm

ao là số hạng cố định

a1 là mức tác động tới định mức chi phí sản xuất chung khi biến phí sản xuất chung cần thiết để sản xuất 1 sản phẩm thay đổi 1 đơn vị

a2 là mức tác động tới định mức chi phí sản xuất chung khi định phí sản xuất chung cần thiết để sản xuất 1 sản phẩm thay đổi 1 đơn vị

Sau khi đã xây dựng được những phương trình toán học với mô hình hồi quy bội (hay hồi quy đa biến) ta sẽ sử dụng các kỹ thuật trong môn học kinh tế lượng để giải bài toán này. Từ đó mà việc phân tích được chính xác và chi tiết, xác định được những nhân tố trực tiếp làm ảnh hưởng đến sự biến động của chi phí, giúp nhà quản lý có nguồn thông tin chắc chắn để có giải pháp kịp thời và hiệu quả.

ThS. Nguyễn Thị Lãnh - Đại học Duy Tân
(tapchiketoan.info)
Cập nhật ngày Thứ tư, 16 Tháng 12 2009 17:31
 
Phương pháp tính giá thành sản xuất PDF. In Email
Viết bởi Hằng   
Thứ tư, 16 Tháng 12 2009 15:26

Phương pháp tính giá thành sản xuất toàn bộ có 2 phương pháp: phương pháp tính giá thành giản đơn và phương pháp tính giá thành phân bước, sau đây là các phương pháp và các ví dụ đi kèm



 

a) Phương pháp tính giá thành giản đơn

Trường hợp từ khi đưa nguyên liệu vật liệu chính vào quy trình sản xuất cho đến khi tạo ra sản phẩm là một quy trình khép kín, kết thúc quy trình sản xuất tạo ra một loại sản phẩm, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, đối tượng tính giá thành là khối lượng sản phẩm hoàn thành của quy trình sản xuất đó, và:

Z = Dđk + C- Dck

Trong đó: Z, z là tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm.

Dđk và Dck: là chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ và CPsxDDcuối kỳ.

Dck có thể được đánh giá theo chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp hoặc theo sản lượng hoàn thành tương đương.

Ví dụ 5.3: Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm C, có tài liệu sau:

(Đơn vị: 1.000đ)

Khoản mục chi phí

DĐK

C

- Chi phí NLTT

45.500

334.000

- Chi phí NCTT

9.500

85.000

- Chi phí sản xuất chung

12.000

103.500

Cộng

67.000

522.500

- Kết quả sản xuất: Hoàn thành nhập kho 190 sản phẩm, còn 40 sản phẩm dở mức độ chế biến hoàn thành 50%.

Đánh giá sản phẩm dở dang:

+ Chi phí VLTT

=

45.500 + 334.000

  x  40 =  66.000

190 + 40

 

 

 

 

+ Chi phí NCTT

=

9.500 + 85.000

  x  (40 x 50%) = 9.000

190 + (40 x 50%)

 

 

 

 

+ Chi phí SXC

=

12.000 + 103.500

  x  (40 x 50%) = 11.000

190 + (40 x 50%)

Bảng tính giá thành sản phẩm C

Sản lượng: 190

Khoản mục chi phí

DĐK

C

DCK

Z

z

- Chi phí VLTT

45.500

334.000

66.000

313.500

1.650

- Chi phí NCTT

9.500

85.000

9.000

85.500

450

- Chi phí SXC

12.000

103.500

11.000

104.500

550

Cộng

67.000

522.500

86.000

503.500

2.650

b) Tính giá thành sản phẩm đối với  doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu chế biến liên tục

Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm trong những doanh nghiệp này là từ khi đưa nguyên liệu, vật liệu chính cho đến khi tạo ra thành phẩm phải trải qua nhiều giai đoạn công nghệ, kết thúc mỗi giai đoạn công nghệ tạo ra nửa thành phẩm chuyển sang giai đoạn sau để tiếp tục chế biến. Yêu cầu quản lý cần biết chi phí sản xuất của  từng giai đoạn công nghệ, sản phẩm tạo ra từ quy trình sản xuất này gồm các nửa thành phẩm và thành phẩm.

Trường hợp đối tượng tính giá thành là các nửa thành phẩm và thành phẩm thì tính giá thành theo phương pháp phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm. Trường hợp đối tượng tính giá thành chỉ là thành phẩm cuối cùng thì tính giá thành theo phương pháp phân bước không tính giá thành nửa thành  phẩm.

(1) Tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm


Trình tự tính giá thành : ( là giá thành nửa thành phẩm giai đoạn i).

- Giai đoạn 1:

 = DĐK1 + C1 - DCK1

Nửa thành phẩm giai đoạn 1 được sử dụng chủ yếu là chuyển giai đoạn 2 tiếp tục chế biến, ngoài ra có thể bán nửa thành phẩm ra ngoài hay nhập kho nửa thành phẩm.

- Giai đoạn 2: Nhận nửa thành phẩm giai đoạn 1 chuyển sang để tiếp tục chế biến tạo ra nửa thành phẩm giai đoạn 2, và:

chuyển sang + C2 - DCK2

Trong đó C2 là chi phí chế biến của giai đoạn 2.

Mỗi sản phẩm của giai đoạn 2 được kết tinh gồm 2 bộ phận chi phí :

+ Chi phí giai đoạn trước chuyển sang (giá thành NTP giai đoạn trước chuyển sang): đây là bộ phận chi phí bỏ vào từ đầu quy trình của từng giai đoạn công nghệ.

+ Chi phí chế biến của giai đoạn 2: Đây là bộ phận chi phí bỏ vào theo mức độ gia công chế biến.

Tuần tự như vậy cho đến giai đoạn cuối cùng, sẽ tính được giá thành thành phẩm :

chuyển sang + Cn - DCKn

Chi phí giai đoạn trước kết chuyển một cách tuần tự sang giai đoạn sau, có thể kết chuyển tuần tự từng khoản mục, hoặc kết chuyển tuần tự tổng hợp. Để quản lý, phân tích chi phí người ta thường thực hiện kết chuyển tuần tự từng khoản mục chi phí. Vì vậy phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm còn được gọi là phương pháp kết chuyển tuần tự chi phí.

          

Phương pháp này đòi hỏi trước hết phải xác định được chi phí sản xuất của từng giai đoạn nằm trong giá thành thành phẩm cuối cùng theo từng khoản mục chi phí, sau đó tổng cộng song song từng khoản mục chi phí sản xuất của từng giai đoạn nằm trong giá thành thành phẩm sẽ được giá thành của thành phẩm. Phương pháp này còn được gọi là phương pháp kết chuyển chi phí song song.

Trình tự tính toán:

 eq CItp = \f(DĐKi + Ci, Qi) x QItp

Trong đó:

+ CiTP: Là chi phí giai đoạn công nghệ i tính trong giá thành thành phẩm.

+ DĐki, Ci: Chi phí dở dang đầu kỳ và chi phí phát sinh trong kỳ của giai đoạn công nghệ i

+ Qi: là khối lượng sản phẩm mà giai đoạn i đầu tư chi phí

+ QiTP: Khối lượng thành phẩm đã quy đổi về nửa thành phẩm giai đoạn i.

QiTP= QTP x Hi

+ Hi: là hệ số sử dụng sản phẩm giai đoạn i:

            và

           

 eq zTP = \f(ZTP, QTP)

Ví dụ 5.4: Doanh nghiệp Xuân Hà sản xuất sản phẩm A trải qua 2 phân xưởng chế biến liên tục: phân xưởng 1 và phân xưởng 2. Trích một số tài liệu trong tháng 3/N:

Chi phí sản xuất sản phẩm đã phát sinh trong kỳ: (đơn vị tính: đồng)

 

Chi phí VLTT

Chi phí NCTT

Chi phí sản xuất chung

Phân xưởng 1

374.000.000

90.000.000

105.000.000

Phân xưởng 2

-

60.000.000

72.000.000

- Kết quả sản xuất trong tháng: Phân xưởng 1 sản xuất hoàn thành 1.200 nửa thành phẩm A chuyển hết cho phân xưởng 2 tiếp tục chế biến, còn lại 500 sản phẩm làm dở mức độ chế biến hoàn thành 60%. Phân xưởng 2 nhận 1.200 nửa thành phẩm phân xưởng 1 chuyển sang tiếp tục chế biến hoàn thành nhập kho 800 thành phẩm,còn 400 sản phẩm đang chế dở mức độ hoàn thành 50%.

Yêu cầu: 1) Tính giá thành nửa thành phẩm và thành phẩm theo phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm.

2) Tính giá thành thành phẩm theo phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm.

Lời giải yêu cầu 1:

- Đánh giá sản phẩm dở dang phân xưởng 1:

+ Chi phí VLTT

=

374.000.000

x

500

=

110.000.000

 

1.200 + 500

 

+ Chi phí NCTT

=

90.000.000

x

(500 x 60%)

=

18.000.000

1.200 + (500 x 60%)

                         

 

+ Chi phí SXC

=

105.000.000

x

(500 x 60%)

=

21.000.000

1.200 + (500 x 60%)

Bảng tính giá thành nửa thành phẩm phân xưởng 1

Sản lượng: 1.200

Khoản mục chi phí

DĐK

C

DCK

Z

z

Chi phí VLTT

 

374.000.000

110.000.000

264.000.000

220.000

Chi phí NCTT

 

90.000.000

18.000.000

72.000.000

60.000

Chi phí SXC

 

105.000.000

21.000.000

84.000.000

70.000

Cộng

 

569.000.000

149.000.000

420.000.000

350.000

- Đánh giá sản phẩm làm dở giai đoạn 2:

+ Chi phí VLTT

=

264.000.000

x

400

=

88.000.000

800 + 400

 

+ Chi phí NCTT

 

 

 

 

 

 

 

 

=

72.000.000

x

400

+

60.000.000

x (400 x 50%)

= 36.000.000

800 + 400

800 + (400 x 50%)

+ Chi phí SX chung

=

84.000.000

x

400

+

72.000.000

x (400 x 50%)

= 42.400.000

800 + 400

800 + (400 x 50%)

Bảng tính giá thành thành phẩm A

Sản lượng : 800

Khoản mục chi phí

DĐK

Chi phí sản xuất trong kỳ

DC`K

Z

Z

Giai đoạn trước

Giai đoạn này

Chi phí VLTT

 

264.000.000

-

88.000.000

176.000.000

220.000

Chi phí NCTT

 

72.000.000

60.000.000

36.000.000

96.000.000

120.000

Chi phí SXC

 

84.000.000

72.000.000

42.400.000

113.600.000

142.000

Cộng

 

420.000.000

132.000.000

166.400.000

385.600.000

482.000

 

Lời giải yêu cầu 2:

- Chi phí giai đoạn 1 trong giá thành thành phẩm:

+ Chi phí VLTT

=

374.000.000

  x 800 = 176.000.000

1.200 + 500

 

+ Chi phí NCTT

=

90.000.000

 x 800 = 48.000.000

1.200 + (500 x 60%)

 

+ Chi phí SXC

=

105.000.000

 x 800 = 56.000.000

1.200 + (500 x 60%)

- Chi phí giai đoạn 2 trong giá thành thành phẩm:

+ Chi phí NCTT

=

60.000.000

 x 800 = 48.000.000

1.200 + (400 x 50%)

 

+ Chi phí SXC

=

72.000.000

 x 800 = 57.600.000

800 + (400 x 50%)

Bảng tính giá thành thành phẩm A

Sản lượng: 800

Khoản mục chi phí

Chi phí sản xuất từng giai đoạn trong ZTP­

Z

z

PX1

PX2

Chi phí VLTT

176.000.000

-

176.000.000

220.000

Chi phí NCTT

48.000.000

48.000.000

96.000.000

120.000

Chi phí SXC

56.000.000

57.600.000

113.600.000

142.000

Cộng

280.000.000

105.600.000

385.600.000

482.000

Trường hợp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí vật liệu trực tiếp hoặc nửa thành phâm bước trước chuyển sang, ở giai đoạn 1 chỉ tính cho sản phẩm dở dang phần chi phí vật liệu trực tiếp (hoặc chi phí vật liệu chính trực tiếp), còn giai đoạn sau chỉ tính cho sản phẩm dở dang phần giá thành nửa thành phẩm bước trước chuyển sang trong sản phẩm dở.

Ví dụ 5.5: Doanh nghiệp Hà Xuân sản xuất sản phẩm A trải qua 2 phân xưởng chế biến liên tục: phân xưởng 1 và phân xưởng 2. Trích một số tài liệu trong tháng 3/N:

- Không có sản phẩm sản xuất dở dang đầu kỳ và không có thành phẩm tồn kho đầu kỳ.

- Chi phí sản xuất sản phẩm đã phát sinh trong kỳ: (đơn vị tính: đồng)

 

Chi phí VLTT

Chi phí NCTT

Chi phí SXC

Phân xưởng 1

495.000.000

55.000.000

60.500.000

Phân xưởng 2

-

22.500.000

24.750.000

- Kết quả sản xuất trong tháng: Phân xưởng 1 sản xuất hoàn thành 5.000 nửa thành phẩm A chuyển hết cho phân xưởng 2 tiếp tục chế biến, còn lại 500 sản phẩm làm dở. Phân xưởng 2 nhận 5.000 nửa thành phẩm phân xưởng 1 chuyển sang tiếp tục chế biến hoàn thành nhập kho 4.500 thành phẩm A, còn 500 sản phẩm đang chế dở.

Yêu cầu:

1) Tính giá thành nửa thành phẩm và thành phẩm theo phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm

2) Tính giá thành thành phẩm theo phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm  

Lời giải yêu cầu 1:

* Đánh giá sản phẩm dở dang phân xưỏng 1:

CPVLTT

=

495.000.000

x

500

=

45.000.000

5.000 + 500

Bảng tính giá thành  nửa thành phẩm A

Sản lượng: 5.000

Khoản mục chi phí

Dđk

C

Dck

Z

z

CPVLTT

 

495.000.000

45.000.000

450.000.000

90.000

CPNCTT

 

55.000.000

-

55.000.000

11.000

CPSXC

 

60.500.000

-

60.500.000

12.100

Cộng

-

610.500.000

45.000.000

565.500.000

113.100

* Đánh giá sản phẩm dở dang phân xưởng 2: 

CPVLTT         = 90.000 x 500 = 45.000.000

CPNCTT        = 11.000 x 500 =   5.500.000

CPSXC           = 12.100 x 500 =   6.050.000

                     Cộng:                                56.550.000

Bảng tính giá thành thành phẩm A

Sản lượng: 4.500

KMCP

Dđk

CPSX trong kỳ

Dck

Z

z

GĐ trước

GĐ này

CPVLTT

 

450.000.000

-

45.000.000

405.000.000

90.000

CPNCTT

 

55.000.000

22.500.000

5.500.000

72.000.000

16.000

CP SXC

 

60.500.000

24.750.000

6.050.000

79.200.000

17.600

  Cộng

-

565.500.000

47.250.000

56.550.000

556.200.000

123.600

Lời giải yêu cầu 2:

- Chi phí giai đoạn 1 trong giá thành thành phẩm:

 

+ Chi phí VLTT

=

495.000.000

 x 4.500 = 405.000.000

5.000 + 500

 

+ Chi phí NCTT

=

55.000.000

 x 4.500 = 49.500.000

5.000

 

+ Chi phí SXC

=

60.500.000

 x 4.500 = 54.450.000

5.000

- Chi phí giai đoạn 2 trong giá thành thành phẩm: là toàn bộ chi phí phát sinh của giai đoạn 2

Bảng tính giá thành thành phẩm A

Sản lượng: 4.500

Khoản mục chi phí

Chi phí sản xuất từng giai đoạn trong ZTP­

Z

z

PX1

PX2

Chi phí VLTT

405.000.000

-

405.000.000

90.000

Chi phí NCTT

49.500.000

22.500.000

72.000.000

16.000

Chi phí SXC

54.450.000

24.750.000

79.200.000

17.600

Cộng

508.950.000

47.250.000

556.200.000

123.600

Trong trường hợp có hệ số chế biến sản phẩm giữa các giai đoạn cần phải quy đổi theo hệ số sử dụng sản phẩm

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 2 của 12
Copyright © 2010 hangketoan.com.
feed-image Feed Entries